TIẾNG VIỆT VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CỦA DÂN TỘC CHỨT
Từ khóa:
Tiếng Việt; hội nhập xã hội; ngôn ngữ dân tộc thiểu số; Chứt; Kri Phoóng; Mã Liềng; Rục; bảo tồn ngôn ngữ.Tóm tắt
TÓM TẮT: Về mặt dân tộc học, dân tộc Chứt có nhiều nhóm địa phương khác nhau như: Mày, Rục
Sách, Arem, Mã Liềng, Kri Phoóng. Với điều kiện tư liệu hiện nay, bài viết đi sâu miêu tả và phân tích
thực tế sử dụng ngôn ngữ của 3 nhóm địa phương Kri Phoóng, Mã Liềng, Rục. Trên cơ sở thực tiễn giao
tiếp ngôn ngữ của ba nhóm địa phương này, bài viết tập trung nhận diện vai trò của tiếng Việt trong đời
sống của cộng đồng người bản địa và đưa ra khuyến nghị về chính sách ngôn ngữ phù hợp trong bối cảnh
hội nhập. Bài viết xem đây như là một nghiên cứu trường hợp đối với thực tiễn sử dụng ngôn ngữ của
cộng đồng các DTTS ở nước ta nói chung.
Tư liệu sử dụng của bài viết gồm 529 phiếu điều tra xã hội học về tình hình sử dụng tiếng Việt và tiếng
mẹ đẻ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Các kết quả điều tra được xử lí bằng phần mềm SPSS.
Kết quả cho thấy, tiếng Việt ngày càng chiếm ưu thế trong các ngữ cảnh giao tiếp xã hội, đặc biệt ở môi
trường hành chính, giáo dục, và giao tiếp liên dân tộc. Tỉ lệ sử dụng tiếng Việt trong các tình huống như
họp ở xã, đi chợ, giao tiếp với người Kinh đều vượt 85% ở cả ba cộng đồng. Ngược lại, tiếng mẹ đẻ chủ
yếu tồn tại trong các hoạt động văn hóa, lễ nghi như cầu cúng, hát dân ca và kể chuyện dân gian. Dưới góc
tiếp cận ngôn ngữ học xã hội kết hợp với lí thuyết hội nhập xã hội hiện đại, bài viết cho thấy, trạng thái
song ngữ bất đối xứng đang hình thành, trong đó tiếng Việt giữ vai trò ngôn ngữ hội nhập còn tiếng mẹ đẻ
đang bị thu hẹp chức năng giao tiếp. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình chính sách ngôn ngữ song ngữ cộng
sinh, giúp cân bằng giữa yêu cầu hội nhập và bảo tồn bản sắc, góp phần xây dựng xã hội đa dạng, và phát
triển bền vững cho các cộng đồng DTTS tại Việt Nam.
TỪ KHÓA: Tiếng Việt; hội nhập xã hội; ngôn ngữ dân tộc thiểu số; Chứt; Kri Phoóng; Mã Liềng; Rục;
bảo tồn ngôn ngữ.